Trong thực tế giao dịch dân sự, thương mại, không ít trường hợp các bên đã hoàn thành việc giao hàng, thanh toán hoặc nghiệm thu hợp đồng nhưng sau đó vẫn phát sinh tranh chấp liên quan đến điều khoản phạt vi phạm.
Một bên cho rằng hợp đồng đã hoàn tất nên không thể tiếp tục áp dụng chế tài phạt vi phạm. Trong khi đó, bên còn lại lại yêu cầu xử phạt do trước đó đã xảy ra hành vi vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận.
Vậy trong trường hợp hợp đồng đã được thực hiện xong thì điều khoản phạt vi phạm còn được áp dụng hay không? Hãy cùng Luật Phú Thanh tìm hiểu chi tiết nhé!
Phạt vi phạm là gì?
Theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại, phạt vi phạm là việc các bên thỏa thuận về khoản tiền mà bên vi phạm phải trả khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.
Đây là chế tài phát sinh từ hành vi vi phạm nghĩa vụ, không phụ thuộc hoàn toàn vào việc hợp đồng đã chấm dứt hay chưa.
Theo Bộ luật Dân sự 2015 khi hợp đồng đã hoàn thành nhưng bên có quyền chứng minh được có hành vi vi phạm trong thời gian thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận đồng thời có thỏa thuận phạt vi phạm cụ thể trong hợp đồng đã giao kết thì vẫn có thể áp dụng chế tài phạt vi phạm.
Có được áp dụng phạt vi phạm khi đã hoàn thành hợp đồng?
Theo Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, các bên giao kết hợp đồng có quyền thỏa thuận về việc phạt vi phạm hợp đồng khi vi phạm nghĩa vụ.
Theo đó, khi hợp đồng đã hoàn thành nhưng bên có quyền chứng minh được có hành vi vi phạm trong thời gian thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận đồng thời có thỏa thuận phạt vi phạm cụ thể trong hợp đồng đã giao kết thì vẫn có thể áp dụng chế tài phạt vi phạm.
Hợp đồng được xác định hoàn thành khi nào?
Hiện nay pháp luật về hợp đồng chưa định nghĩa cụ thể thế nào là hoàn thành hợp đồng. Tuy nhiên, tại Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa hợp đồng như sau:
Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Theo đó, có thể hiểu, thực hiện hợp đồng là quá trình các bên giao kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận nhằm đạt được mục đích giao kết.
Tại Điều 372 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể các Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ bao gồm:
Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ
Nghĩa vụ chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Nghĩa vụ được hoàn thành;
2. Theo thỏa thuận của các bên;
3. Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;
4. Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác;
5. Nghĩa vụ được bù trừ;
6. Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một;
7. Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết;
8. Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;
9. Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác;
10. Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác;
11. Trường hợp khác do luật quy định.
Đồng thời Điều 373 Bộ luật dân sự 2015 nêu rõ:
Hoàn thành nghĩa vụ
Nghĩa vụ được hoàn thành khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên có quyền cho miễn thực hiện.
Đồng thời tại Điều 118 Bộ luật Dân sự 2015 xác định
Mục đích của giao dịch dân sự
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.
Như vậy, hợp đồng có thể được xác định là hoàn thành khi các bên trong hợp đồng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bị ràng buộc theo trong nội dung hợp đồng và đạt được mục đích giao kết của các bên khi giao kết hợp đồng ban đầu, trừ các trường hợp khác theo quy định pháp luật.
Điều kiện áp dụng phạt vi phạm khi đã hoàn thành hợp đồng là gì?
Thỏa thuận phạt vi phạm được quy định tại Điều 418 Bộ luật dân sự 2015 cụ thể như sau:
Thỏa thuận phạt vi phạm
1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
Tại khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ như sau:
Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
Như vậy, thỏa thuận phạt vi phạm cần được thỏa thuận và nêu rõ trong hợp đồng đã được giao kết. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì không được áp dụng chế tài này. Bên cạnh đó, bên có quyền cần phải chứng minh các yếu tố sau khi yêu cầu phạt vi phạm:
– Có thỏa thuận về việc áp dụng phạt vi phạm trong hợp đồng đã giao kết.
– Bên vi phạm có hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng.
– Bên vi phạm gây ra thiệt hại cho bên có quyền bằng hành vi vi phạm khi thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.
Trường hợp các bên xảy ra tranh chấp về thỏa thuận phạt vi phạm thì bên có quyền có thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp trong thời hiệu xác định theo Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

