Trong thực tiễn giao kết hợp đồng, đặc biệt ở các giao dịch thương mại, xây dựng, mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ có yếu tố biến động giá, nhiều bên lựa chọn ghi giá trị hợp đồng bằng USD để làm căn cứ xác định giá trị thanh toán. Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp, không ít bên viện dẫn quy định quản lý ngoại hối để cho rằng hợp đồng ghi giá USD là trái pháp luật và phải vô hiệu toàn bộ.
Đây là cách hiểu chưa thật sự đầy đủ. Bởi câu hỏi pháp lý quan trọng không chỉ là “có vi phạm quy định về ngoại hối hay không”, mà còn là vi phạm đó có làm vô hiệu toàn bộ hợp đồng hay chỉ ảnh hưởng đến điều khoản thanh toán?
Tình huống:
Anh Minh – Giám đốc một công ty kinh doanh thiết bị công nghiệp tại Hà Nội hỏi:
Tháng 03/2025, công ty tôi ký hợp đồng bán dây chuyền máy móc cho Công ty H., cả hai đều là doanh nghiệp Việt Nam. Trong hợp đồng, hai bên thỏa thuận giá trị hợp đồng được xác định bằng USD để ổn định giá do biến động thị trường, nhưng việc thanh toán thực hiện bằng đồng Việt Nam.
Phía bên mua đã đặt cọc, chúng tôi đã giao đủ hàng, nhưng nay họ viện lý do hợp đồng vô hiệu vì “ghi giá bằng ngoại tệ trái pháp luật”, từ chối thanh toán phần còn lại và yêu cầu trả lại tiền cọc. Xin hỏi, lập luận này có căn cứ không? Hợp đồng có bị vô hiệu không?

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Trên thực tế, nhằm ổn định giá trị hợp đồng và tối đa hóa lợi ích trong kinh doanh, việc các bên ký kết hợp đồng có thỏa thuận sử dụng ngoại tệ để tính toán hoặc làm căn cứ xác định giá trị giao dịch không phải là điều hiếm gặp.
Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành, việc thỏa thuận ngoại tệ trong hợp đồng như vậy được xem là hành vi vi phạm quy định về quản lý ngoại hối và có thể dẫn đến rủi ro hợp đồng bị tuyên vô hiệu. Anh Minh có thể tham khảo phân tích và hướng dẫn cụ thể của Luật sư dưới đây.
Thứ nhất, việc thỏa thuận giá bằng ngoại tệ trong hợp đồng là vi phạm pháp luật.
Việc các bên thỏa thuận ghi giá hoặc thanh toán bằng ngoại tệ (USD) trong hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai doanh nghiệp Việt Nam là chưa phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về việc hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. Cụ thể:
Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối 2005, được sửa đổi bởi khoản 13 Điều 1 Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13 quy định:
“Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”
Ngoài ra, Điều 3 Thông tư số 32/2013/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam cũng có quy định như sau:
“Trên lãnh thổ Việt Nam, trừ các trường hợp được sử dụng ngoại hối quy định tại Điều 4 Thông tư này, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối.”
Như vậy, theo quy định pháp luật hiện hành, chỉ trong một số trường hợp đặc biệt do Ngân hàng Nhà nước cho phép, các tổ chức và cá nhân mới được phép sử dụng ngoại tệ trong giao dịch. Ngoài các trường hợp ngoại lệ đó, mọi hoạt động giao dịch, thanh toán, định giá hoặc ghi giá bằng ngoại tệ giữa các bên trong lãnh thổ Việt Nam đều bị cấm. Do đó, việc các bên thỏa thuận giá bằng USD trong hợp đồng là vi phạm quy định pháp luật.
Thứ hai, hợp đồng có vô hiệu khi có thỏa thuận giá bằng ngoại tệ?
Căn cứ Điều 122, điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự 2015, hợp đồng (hay giao dịch dân sự nói chung) vô hiệu khi mục đích và nội dung của giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Như đã phân tích ở trên, hợp đồng giữa công ty anh Minh và Công ty H. Đã vi phạm điều cấm của luật (thỏa thuận giá bằng ngoại tệ), do đó, giao dịch thuộc trường hợp vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy Tòa án vẫn có sự linh hoạt trong việc đánh giá tính vô hiệu của hợp đồng có thỏa thuận giá bằng ngoại tệ, tùy thuộc vào thực tế thực hiện giao dịch giữa các bên. Cụ thể:
Trường hợp bị tuyên vô hiệu toàn bộ: khi hợp đồng có thỏa thuận ghi giá bằng ngoại tệ và các bên chưa thực hiện hợp đồng hoặc thực tế đã thanh toán bằng ngoại tệ. Trong trường hợp này, hợp đồng bị tuyên vô hiệu toàn bộ và các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không bị tuyên vô hiệu: khi hợp đồng ghi giá bằng ngoại tệ nhưng thực tế đã thanh toán bằng đồng Việt Nam. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ buộc các bên phải thỏa thuận lại điều khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam để đảm bảo nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với trường hợp thứ hai, có thể hiểu khi hợp đồng có điều khoản thỏa thuận giá bằng ngoại tệ, nhưng thực tế nghĩa vụ thanh toán đã được thực hiện bằng đồng Việt Nam, thì đồng nghĩa với việc các bên không có hành vi sử dụng ngoại tệ trái phép trong giao dịch dân sự.
Do đó, hành vi vi phạm điều cấm của pháp luật về quản lý ngoại hối không xảy ra trên thực tế, và việc thỏa thuận giá bằng ngoại tệ chỉ mang tính hình thức (dùng làm đơn vị quy đổi hoặc tham chiếu giá trị). Trong bối cảnh đó, Tòa án xem xét bản chất của giao dịch, nhận thấy các bên đã tự điều chỉnh để phù hợp với quy định pháp luật, nên không tuyên hợp đồng vô hiệu mà chỉ yêu cầu sửa đổi điều khoản thanh toán sang đồng Việt Nam để bảo đảm tính hợp pháp của hợp đồng.
Hướng xử lý này cũng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (mặc dù hiện nay đã hết hiệu lực). Cụ thể:
“3. Đối với hợp đồng kinh tế mà trong nội dung của hợp đồng các bên có thoả thuận giá cả, thanh toán bằng ngoại tệ cần phân biệt như sau:
b. Nếu trong nội dung của hợp đồng kinh tế các bên có thoả thuận giá cả, thanh toán bằng ngoại tệ trong khi đó một hoặc các bên không được phép thanh toán bằng ngoại tệ, nhưng sau đó các bên có thoả thuận thanh toán bằng Đồng Việt Nam hoặc
Trong nội dung của hợp đồng kinh tế các bên thoả thuận sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền định giá (để bảo đảm ổn định giá trị của hợp đồng) nhưng việc thanh toán là bằng Đồng Việt Nam, thì hợp đồng kinh tế không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT và do đó không bị coi là vô hiệu toàn bộ.”
Nếu hợp đồng của anh chỉ thỏa thuận giá quy chiếu bằng USD nhưng thanh toán bằng VNĐ, khả năng hợp đồng bị tuyên vô hiệu toàn bộ là rất thấp. Ngược lại, Công ty X. vẫn có trách nhiệm tiếp tục thanh toán theo cam kết. Việc đòi trả hàng, đòi lại cọc và phủ nhận hợp đồng trong bối cảnh bên bán đã giao đủ hàng là lập luận chưa chắc có cơ sở pháp lý.
Từ những phân tích nêu trên và đối chiếu với trường hợp của anh Minh, có thể thấy hợp đồng giữa công ty anh Minh và Công ty H. có thỏa thuận ghi giá bằng ngoại tệ, nhưng thực tế việc thanh toán đã được thực hiện bằng đồng Việt Nam, do đó, hợp đồng không bị coi là vô hiệu.
Tuy nhiên, mặc dù hợp đồng không vô hiệu, nhưng thỏa thuận sử dụng ngoại hối trong hợp đồng của các bên vẫn là hành vi vi phạm quy định của pháp luật nên vẫn sẽ bị xem xét xử lý. Căn cứ điểm n khoản 4 Điều 23 Nghị định số 88/2019/ NĐ-CP thì hành vi này của các bên sẽ phải đối diện với mức phạt tiền lên đến 100.000.000 đồng.
Do đó, để tránh những rủi ro pháp lý tương tự trong tương lai, anh Minh nên chủ động rà soát và điều chỉnh lại điều khoản về đồng tiền thanh toán trong các hợp đồng của công ty anh với khách hàng, nhằm đảm bảo mọi giao dịch được thực hiện bằng đồng Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
Nếu tranh chấp kéo dài, có thể cân nhắc phương án yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc khởi kiện để bảo vệ quyền lợi.
Kết luận
Hợp đồng thỏa thuận giá bằng ngoại tệ không mặc nhiên bị vô hiệu. Điều cần xem xét là bản chất thỏa thuận, cách thanh toán và mức độ ảnh hưởng của điều khoản liên quan đến hiệu lực toàn bộ hợp đồng. Trong nhiều trường hợp, nếu có vi phạm, rủi ro thường nằm ở điều khoản thanh toán chứ không làm “đổ vỡ” toàn bộ giao dịch.
Nếu đang gặp tranh chấp liên quan đến hiệu lực hợp đồng hoặc điều khoản thanh toán bằng ngoại tệ, Luật Phú Thanh sẵn sàng hỗ trợ tư vấn và đưa ra phương án pháp lý phù hợp.

