Chính sách khoan hồng đối với người phạm tội chủ động tố giác đồng phạm

Chính sách khoan hồng đối với người phạm tội chủ động tố giác đồng phạm

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, không ít trường hợp người phạm tội đã chủ động khai báo hành vi phạm tội của mình, đồng thời cung cấp thông tin, tố giác hoặc giúp cơ quan chức năng phát hiện các đồng phạm liên quan.

Điều này đặt ra câu hỏi: Người phạm tội tố giác đồng phạm có được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật hay không? Việc hợp tác với cơ quan điều tra có được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay là căn cứ để miễn, giảm hình phạt? Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm khi tham gia hoặc liên quan đến các vụ án hình sự có đồng phạm. Hãy cùng Luật Phú Thanh tìm hiểu nhé!

Người phạm tội tố giác đồng phạm được khoan hồng nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định. Xem quy định về đồng phạm và chính sách khoan hồng theo Bộ luật Hình sự 2015.

Người phạm tội tố giác đồng phạm có được khoan hồng không?

Tố giác đồng phạm được xem xét khoan hồng theo Bộ luật Hình sự 2015.

Cụ thể tại điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 như sau:

Nguyên tắc xử lý

1. Đối với người phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;

g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

Như vậy, người phạm tội được khoan hồng khi tố giác đồng phạm theo nguyên tắc xử lý nêu trên.

Chính sách khoan hồng đối với người phạm tội chủ động tố giác đồng phạm
Chính sách khoan hồng đối với người phạm tội chủ động tố giác đồng phạm

Trường hợp nào được xem là đồng phạm theo Bộ luật Hình sự hiện hành?

Căn cứ theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 quy định như sau:

Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Như vậy, đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử lý hình sự thế nào?

Căn cứ Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về mức phạt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 2025, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 500 triệu như sau:

(1) Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

– Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

– Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

– Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

(2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

– Có tổ chức;

– Có tính chất chuyên nghiệp;

– Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

– Tái phạm nguy hiểm;

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

– Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

(3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

– Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

– Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

(4) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

– Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

– Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

(5) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Kết luận

Việc người phạm tội chủ động tố giác đồng phạm, thành khẩn khai báo và tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án mà còn thể hiện thái độ ăn năn, hối cải của người phạm tội.

Tùy từng trường hợp cụ thể, đây có thể là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét áp dụng các chính sách khoan hồng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc giảm mức hình phạt theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc được hưởng khoan hồng đến mức nào còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò của người đó trong vụ án và giá trị của thông tin đã cung cấp cho cơ quan chức năng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *