Trong các vụ việc liên quan đến thừa kế, thời hiệu là một trong những vấn đề pháp lý quan trọng nhưng thường bị nhiều người bỏ qua. Không ít trường hợp sau nhiều năm kể từ khi người để lại di sản qua đời, các thành viên trong gia đình mới phát sinh tranh chấp hoặc có nhu cầu yêu cầu chia di sản.
Khi đó, câu hỏi được đặt ra là thời hiệu thừa kế được dùng để làm gì, thời hạn yêu cầu chia di sản là bao lâu và nếu đã hết thời hiệu thì người thừa kế có còn quyền đối với di sản hay không. Việc hiểu đúng các quy định về thời hiệu thừa kế sẽ giúp các bên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách hiệu quả. Hãy cùng Luật Phú Thanh tìm hiểu chi tiết nhé!
Thời hiệu thừa kế được dùng để làm gì? Hết thời hiệu thừa kế có làm mất quyền thừa kế không?
Thời hiệu thừa kế là khoảng thời gian mà người thừa kế theo quy định pháp luật được thực hiện các quyền yêu cầu chia di sản, thực hiện xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết căn cứ theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy, theo quy định pháp luật, hết thời hiệu thừa kế chỉ làm mất các quyền liên quan đến yêu cầu về quyền thừa kế và nghĩa vụ của người thừa kế, không đương nhiên làm mất quyền thừa kế đối với người thừa kế.

Thời hiệu thừa kế là gì?
Căn cứ khoản 1 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa về Thời hiệu như sau:
Thời hiệu
1. Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.
Căn cứ Điều 151 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Cách tính thời hiệu như sau:
Cách tính thời hiệu
Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu.
Căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thời hiệu thừa kế như sau:
Thời hiệu thừa kế
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Như vậy, có thể hiểu thời hiệu thừa kế là khoảng thời gian được xác định và liên tục theo luật định mà người thừa kế có thể thực hiện các quyền sau đây:
– Quyền yêu cầu chia di sản thừa kế
– Quyền yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình
– Quyền bác bỏ quyền thừa kế của người khác
– Quyền yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại
Quyền thừa kế là gì?
Căn cứ Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Quyền thừa kế như sau:
Quyền thừa kế
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.
Trong đó, Người thừa kế được theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm:
Người thừa kế
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp nào làm mất quyền thừa kế?
Căn cứ Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Người không được quyền hưởng di sản bao gồm:
Người không được quyền hưởng di sản
1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
Như vậy, khi người thừa kế thuộc một trong các trường hợp được quy định cụ thể như trên thì không được quyền hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên, di chúc được lập theo mong muốn của người để lại di sản nên khi đã biết nhưng vẫn mong muốn để người thuộc khoản 1 Điều này nhận di sản thừa kế thì người thừa kế vẫn được quyền hưởng di sản thừa kế đó.
Đồng thời, người thừa kế có thể bị mất quyền hưởng thừa kế khi bị truất quyền hưởng di sản theo di chúc của người lập di chúc căn cứ khoản 1 Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015:
Quyền của người lập di chúc
Người lập di chúc có quyền sau đây:
1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. …
Ngoài ra, cũng tại khoản 2 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 có nêu rõ:
Thời hiệu thừa kế
…
2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Theo đó, quyền thừa kế của người thừa kế cũng có thể bị bác bỏ bởi người thừa kế khác khi yêu cầu chia di sản.
Tuy nhiên, người thừa kế khác chỉ có quyền yêu cầu bác bỏ chứ không được quyền quyết định việc người bị bác bỏ quyền thừa kế có được hưởng di sản thừa kế hay không.
Thẩm quyền về việc công nhận bác bỏ quyền thừa kế, xác nhận người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế không có quyền hưởng di sản thuộc về Tòa án nhân dân thông qua bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật theo quy định về tố tụng dân sự.
Như vậy, người thừa kế sẽ bị mất quyền thừa kế trong các trường hợp sau:
– Người thừa kế thuộc một trong các trường hợp Người không được hưởng di sản thừa kế theo quy định.
– Người thừa kế bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản.
– Người thừa kế bị người thừa kế khác yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế và được Tòa án công nhận bác bỏ quyền thừa kế, quyền được hưởng di sản thừa kế.
Kết luận
Thời hiệu thừa kế không chỉ là căn cứ để xác định quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của những người có liên quan đến di sản. Tuy nhiên, hết thời hiệu thừa kế không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc mất hoàn toàn quyền đối với di sản.
Tùy từng trường hợp cụ thể, pháp luật vẫn có cơ chế bảo vệ quyền lợi của người thừa kế theo những căn cứ nhất định. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp hoặc có vướng mắc liên quan đến di sản thừa kế, người dân nên tìm hiểu kỹ quy định pháp luật hoặc tham khảo ý kiến luật sư để có hướng xử lý phù hợp.

